Vua họ Diêu, tên là Trọng Hoa, người Ký Châu thời thượng cổ, con mắt có hai con ngươi (đồng tử), lòng hiếu thảo của vua cảm động cả trời đất. Vua từng được voi giúp xới đất, chim đến giúp nhổ cỏ. Cha là Cổ Tẩu tính ương ngạnh; mẹ kế lòng dạ điêu ngoa; em trai tên Tượng tính tình ngạo mạn. Tuy phải chịu nạn bị lửa thiêu, bị chôn vùi đáy giếng, nhưng Thuấn vẫn một lòng hiếu thảo. Đến năm 30 tuổi, Đường Nghiêu nghe tiếng hiền đức của Thuấn, bèn đem hai con gái của mình (Nga Hoàng và Nữ Anh) gã cho làm vợ Thuấn, còn sai chín người con trai theo hầu cận, để học đức hạnh của Thuấn. Người dân trong vùng, nghe tiếng tốt của Thuấn mà tự cảm hóa, năm đầu người kéo nhau về thành một tụ lạc, năm thứ hai người đông thành thị trấn, đến năm thứ ba thì nơi ấy đông đúc như phố thị. Sau 30 năm giúp vua lo việc chính sự, Thuấn được vua Nghiêu nhường ngôi. Chính sách trị nước rõ ràng, con trai làm nương rẫy, con gái ở nhà dệt vải. Có câu rằng: “Ngày đi làm, đêm về nghỉ, đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy gạo ăn, sức vua sao bằng chính tự sức tay ta làm”. Người dân không tham lam, đối với nhau biết nhường nhịn lễ độ. Nên cảm ứng : “Năm ngày một cơn gió đến, mười ngày một trận mưa rào; gió nhẹ không lay cây, mưa rào không phá đất”( ý nói gió mưa thuận hòa). Vua băng hà tại Thương Ngô, làm vua được 49 năm, sau nhường ngôi cho Vũ, hưởng thọ 110 tuổi.

Khen rằng:

Mỹ đại thánh thần
Nhẫn nhượng tư văn
Hiệu khấp hạo thiên
Khuất kỷ đãi nhân
Tượng điểu phục lao
Phủ ngũ huyền cầm
Xướng Nam Phong ca
Giải uấn ngô dân.

Lại nói kệ rằng:

Thiên sanh đại thánh huýnh bất đồng
Xuất loại bạt tụy chúng trung long
Lạc thủ dữ nhân dĩ vi thiện
Kính thận luật kỷ hóa quần luân
Tự canh gia đào giai như thử
Học lễ thư số tận tinh thông
Vô vi nhi trị bình thiên hạ
Chí đức cảm vật tánh duẫn công.

(Xin xem đại ý hai bài thơ qua lời Giảng Giải của Hòa Thượng ở phần sau)

Vua Nghiêu, vua Thuấn là hai bậc thánh quân thời thượng cổ của Trung Hoa. Vua Nghiêu gọi là Đào Đường Thị, vua Thuấn gọi là Hữu Ngu Thị. Vua Ngu Thuấn họ Diêu, tên là Trọng Hoa là người Ký Châu thời thượng cổ của đất Sơn Tây. Vua sinh ra đã có tướng mạo đặc biệt, mỗi con mắt có hai con ngươi (đồng tử); Sở Bá Vương cũng có đôi mắt giống như vậy. Thuấn rất hiếu thảo với cha mẹ, lòng hiếu thảo ấy làm cảm động đến trời xanh, khi Thuấn cày ruộng ở Lịch Sơn, từng cảm hóa được loài voi đến xới đất dùm, chim chóc bay về giúp nhổ cỏ.

Hoàn cảnh gia đình của Ngu Thuấn thật phức tạp. Cha tên là Cổ Tẩu, tuy có mắt mà không biết chuyện, không biết phân biệt trắng đen phải quấy, xử lý công việc thì ương ngạnh tự tung tự tác, ngoan cố không chịu nghe điều lẽ phải. Chữ ‘ngoan cố’ có nghĩa là đầu óc cổ hủ, đầu óc khư khư không biết lắng nghe. Ông ấy ngoan cố thế nào? Ví dụ, ông ta cầm một thỏi đồng, quí vị cầm một thỏi vàng, quí vị đem thỏi vàng đến đổi với ông ta, ông ta không chịu đổi. Vì sao lại không đổi? Ông ta nghĩ, thỏi đồng của tôi đáng giá hơn, quí hơn thỏi vàng của anh. Quí vị có nói với ông ấy rằng: “Đây là vàng, quí giá hơn đồng rất nhiều.” Có như vậy ông ta cũng không chịu tin, đây chính là ‘ngoan cố’, khư khư cứ cho mình là đúng.

Mẹ kế của Thuấn là một người điêu ngoa. ‘Ngân’ (嚚) có nghĩa là không giữ lề lối, cũng là chỉ cho lời nói không thật thà, không thành khẩn, chỉ thích dối gạt, thường ưa nói dối, gây chuyện thị phi. Người mẹ kế này có đứa con trai tên là Tượng. Đứa em trai này không phải em cùng cha với Thuấn, là đứa con riêng của mẹ kế mang về. Do đó, Tượng không có mối liên hệ tình thân gì với Thuấn. Nhưng Thuấn vẫn nhận Tượng xem như em trai, đứa em trai này tính tình rất ngạo mạn.

Lúc Thuấn chưa làm vua, từng chịu nhiều khổ cực. Những nỗi khổ này do ai mang lại cho Thuấn? Đó chính là người cha. Cha của Thuấn vì sao lại đem đến cho con mình nhiều nỗi khổ sở như thế? Bởi vì Cổ Tẩu thương Tượng, đứa con của người vợ kế. Vì thế mà bọn họ ba người, thường rắt tâm làm hại Thuấn. Thế nhưng, lần nào gặp nạn Thuấn cũng đều được bình an, tránh được ách nạn. Cũng như Thuấn có chút lỗi lầm nho nhỏ nào, thì cả ba cùng hành hạ Thuấn; thế nhưng Thuấn vẫn một lòng rất hiếu thuận với cha và người mẹ kế, yêu thương em trai. Hằng ngày Thuấn đều siêng năng cần mẫn làm việc, không dám biếng lười, không hề có chút sai trái trong đạo làm con và tình cảm anh em, nên đến năm hai mươi tuổi, khắp nơi đều nghe danh lòng hiếu thảo của Thuấn.

Năm Thuấn ba mươi tuổi, vua Nghiêu bấy giờ tuổi cũng đã già, nghe được tiếng đồn về đức hạnh của Thuấn, lại thêm được chư hầu khắp nơi tiến cử, vua Nghiêu bèn đồng ý cho Thuấn giúp vua xử lý việc triều chính. Vua Nghiêu đem hai con gái của mình (Nga Hoàng và Nữ Anh) gã cho Thuấn làm vợ, cũng là để tiện theo dõi đức độ trong gia đình của Thuấn. Kinh Dịch có câu “Nhị nữ đồng cư nhi kỳ chí bất đồng” (Hai người phụ nữ ở cùng một nhà nhưng không cùng một chí hướng). Ở đây ý nói, hai người vợ cùng ở một nhà nhưng khó mà hòa hợp với nhau. Vua Nghiêu sở dĩ cố tình làm thế, không ngoài việc muốn thử xem Thuấn có tài ‘Tề gia’ (xử lý chuyện trong gia đình) hay không, để xử lý tốt đẹp mối quan hệ giữa hai người vợ. Kết quả là cả hai đều biết tỏ ra cung kính và chăm chỉ lo lắng việc nhà, không dám lấy danh phận là con gái vua mà khinh rẻ họ hàng của Thuấn, cả hai đều rất có đức của một người nữ. Vua Nghiêu còn sai chín người con trai đến bái Thuấn làm thầy để học những đạo đức và tư tưởng của Thuấn, kết quả là chín người con này ngày càng nhân hậu lễ phép.

Vua Nghiêu từng ban cho Thuấn một tấm Hy Y (loại áo được may từ vải dệt bằng cây Cát) và cây đàn Ngũ huyền (Ngũ huyền cầm: một loại đàn năm dây), rồi còn xây cho một kho thóc, ban thêm cả trâu dê. Thế nhưng, ba người của Cổ Tẩu vẫn muốn giết Thuấn. Có một dịp họ kêu Thuấn đi sửa kho thóc, đợi Thuấn leo lên đỉnh kho, Tượng liền len lén đem dấu cái thang, Cổ Tẩu thì ở dưới đốt lửa thiêu hủy kho thóc. Họ cứ nghĩ sẽ đốt sống được Thuấn. Nhưng nhờ Thuấn giữ trọn lòng hiếu đạo, nên có căn lành lớn, dù không có thần thông, nhưng cũng rất thông minh. Lúc leo lên đỉnh nhà kho để sửa, Thuấn mang theo bên mình hai cái nón lá (Loại nón lá có chóp thời xưa của Trung Hoa ), lẽ ra đội một cái trên đầu cũng đủ rồi. Nhưng Thuấn định là nếu rớt cái này, thì còn cái kia để đội. Lúc Thuấn thấy lửa bốc cháy từ bên dưới kho thóc, lập tức hai tay cầm hai cái nón, giống như dang hai cánh, từ trên đỉnh kho thóc nhảy vọt xuống đất giống như nhảy dù, an toàn không hề bị thương tích gì cả. Rồi Thuấn chạy về nhà gõ cửa, làm cho người cha, mẹ kế và Tượng đứng nhìn chết trân, họ ngạc nhiên: “Không phải hắn bị lửa thiêu rồi sao? Đây có phải hồn nó về không!” Thuấn trả lời: “Con không phải là ma đâu, cả nhà đừng sợ.” Thế rồi họ đành phải mở của cho Thuấn vào nhà.

Cho vào nhà rồi nhưng vẫn mang tâm giết hại Thuấn. Giết thế nào đây? Bọn họ lại bàn với nhau, dùng lửa thiêu không chết, thì dùng nước dìm nó chết! Bấy giờ, do trong nhà không có đủ nước dùng, liền gọi Thuấn xuống vét giếng. Nghe theo lời cha, Thuấn leo xuống vét giếng, dưới giếng có nhiều bùn, phải móc bùn lên thì mới có nước. Thuấn vừa leo xuống giếng, người cha bây giờ thế nào đây? Người Quảng Đông có câu nói: “Lạc tỉnh hạ thạch” (Ý nói: Thấy người bị nạn đã không cứu còn cố tìm cách hại), người cha đứng trên liền thả xuống một tảng đá lớn, cứ nghĩ tảng đá to này nhất định sẽ đè Thuấn chết. Ai ngờ được rằng, Thuấn là người có thiên tướng, phúc mạng lớn, nên cũng có chư thần theo hộ vệ. Trong giếng đó có một con rồng, con rồng này khi thấy tảng đá lớn từ trên rơi xuống liền lấy vuốt rồng chụp lại, rồi dùng đuôi của nó khoét một cái hang bên cạnh đáy giếng. Thuấn thấy được cái hang này liền theo đường hang đó mà thoát ra ngoài, thế là Thuấn không bị đá đè chết.

Sau khi ba người bọn họ quẳng đá xuống giếng, lại dùng một tảng đá đậy kín bên trên miệng giếng, cho rằng lần này thì Thuấn nhất định sẽ chết không thể thoát được. Thế là họ mở ngay cuộc họp gia đình để phân chia tài sản của Thuấn. Tượng nói với bố mẹ rằng: “Lần này lập mưu sát hại Thuấn đều là công lao của con, bây giờ trâu dê, kho đụn đều dành cho bố mẹ, mọi thứ tài sản của Thuấn đều dành cho bố mẹ, con không cần những thứ ấy. Thứ con cần là gì? Con chỉ cần mấy thứ binh khí, cây đàn Ngũ huyền, cây cung có điêu khắc và cả hai người vợ của Thuấn đều thuộc về con”. Cổ Tẩu nói: “Được, được! Con muốn gì thì cho thứ ấy.”

Đang khi Tượng đang hí hững chạy đến nhà của người anh để tiếp nhận hai người chị dâu, hắn vừa bước vào nhà thì thấy Thuấn vẫn bình yên ngồi trên giường gảy đàn! Ông Đại Thuấn lúc này, chẳng hề có chút giận hờn, chẳng có chút gì sân hận, Thuấn không hề nóng giận lên mà nói: “Mấy người trước lấy lửa đốt tôi, rồi đợi tôi xuống giếng còn ném đá lấp giếng lại. A! Muốn hại chết tôi sao.” Thuấn vẫn thế, với vẽ mặt đầy hoan hỷ, thấy em trai đến, còn rất nồng hậu đón tiếp em và ôn tồn hỏi: “Em tìm anh có việc gì không?” Tượng rất lúng túng, tiến thoái lưỡng nan, nói: “Em cảm thấy buồn và bức rức, vì nghĩ đến chuyện đã xãy ra đối với anh.” Thực sự thì trong lòng hắn đang muốn chiếm hữu hai người chị dâu về làm vợ của hắn.

Thuấn có tính rất nhân từ và hiếu thảo, cảm động trời đất; thuở nhỏ thân phận thấp hèn, Thuấn từng phải làm qua nhiều công việc. Khi Thuấn đến làm ruộng ở Lịch Sơn, dân chúng ở Lịch Sơn đều nhường đất cho Thuấn, khi Thuấn bắt cá ở Lôi Trạch, dân chúng ở Lôi Trạch đều nhường Thuấn chỗ bắt cá; lúc Thuấn nắn đồ gốm bên sông Hà Tân, gốm Hà Tân rất đẹp. Trước thời Khổng Tử, Thuấn được xem là người uyên bác, nhiều tài năng nhất, nơi nào Thuấn đến, người dân đều nhờ nghe tiếng tốt của Thuấn mà được cảm hóa, lủ lượt kéo nhau về cùng ở cùng một chỗ, nên trong vòng một năm nơi ấy đã thành một tụ lạc, sau hai năm trở thành một thị trấn, sau ba năm thì biến thành một khu đô thị đông đúc. Lắm lần vua Nghiêu giao cho Thuấn nhiều trọng trách để thử tài năng của Thuấn, Thuấn đều hoàn thành tốt công việc không chút sai sót, đủ thấy rằng Thuấn là một người uyên bác có nhiều năng lực.

Vua Nghiêu lại sai Thuấn đến một vùng hiểm địa sông núi hoang sơ, kết quả Thuấn không hề bị lạc lối trong trận mưa sa gió táp ở núi sâu rừng hiểm, mà còn trở về trong sự bình an. Vua Nghiêu nhận ra được rằng, đức hạnh và tài năng của Thuấn đã đủ để vua truyền giao ngôi vị, nên sau 30 năm Thuấn giúp vua lo việc nước, vua Nghiêu đã đem ngôi vị Thiên tử nhường lại cho Thuấn. ‘Thiện’(禅)là một nghi lễ tế cáo trời đất, trong buổi lễ này vua Nghiêu đã công cáo đề bạt với trời, thần rằng Thuấn sẽ là người kế vị, có quyền nắm giữ sắc lịnh của thiên tử. Tấm lòng chí công vô tư của vua Nghiêu, truyền ngôi cho người hiền mà không truyền cho con, đã khai sáng nên một nền chính trị “Nhường vị” của Trung Hoa từng được xưng tụng trong mấy ngàn năm qua.

Vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, chính sách trị nước của vua Thuấn rất rõ ràng, chưa từng làm khó cho dân, người nam làm ruộng rẫy người nữ dệt vải, muôn dân sống trong cảnh thái bình an cư lạc nghiệp, thế nhưng họ không hề biết vua Thuấn đối với họ thật sự tốt ở điểm nào. Có câu “Ngày đi làm, đêm về nghỉ, đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy gạo ăn, sức vua sao bằng chính tự sức tay ta làm.” Là ý nói rằng, mặt trời lên thì ra đồng, mặt trời xuống núi thì ta về nghỉ, đào giếng để lấy nước uống, làm ruộng để có cái ăn, sức lực của vua Thuấn có liên quan gì đối với ta chứ? Thời ấy, con người không hề tham lam, biết lễ phép và nhường nhịn nhau. Nên cảm ứng “Năm ngày một cơn gió đến, mười ngày một trận mưa rào; gió nhẹ không lay cây, mưa rào không phá đất.” Nhân gian mưa thuận gió hòa, sông xanh biển lặng, không gió táp mưa sa phá hoại đất đai mùa màng. Bốn biển một lòng, phượng hoàng bay lượn (Phượng hoàng – loài chim biểu tượng của sự tốt lành), thiên hạ sống có đạo đức, đều bắt đầu từ thời vua Thuấn.

Vua Thuấn qua đời tại Thương Ngô, làm vua được 49 năm, thọ 110 tuổi. Những năm cuối đời, vua Thuấn vì cảm kích công lao trị thủy của Vũ, tuy là có đứa con trai là Thương Quân nhưng Thương Quân bất tài vô dụng, nên vua Thuấn đã tiến cử Vũ cùng trời thần, theo phép nhượng vị như vua Nghiêu mà nhường ngôi lại cho Vũ. Từ đây chính sách ‘Nhượng vị’ của Trung Hoa lại thêm một trang mới. Vua Thuấn là một vị hoàng đế hiếu thảo nhất của Trung Hoa, cho dù phụ thân, mẹ kế, đối với vua tệ bạc bao nhiêu, em trai kiêu ngạo đến thế nào, vua cũng không để trong lòng, vẫn giữ trọn lòng hiếu thuận.

Khen rằng:

Mỹ đại thánh thần, nhẫn nhượng tư văn: “Nhân nghĩa lễ trí căn ư tâm, kỳ sanh sắc dã, túy nhiên ư diện, áng ư bội, thí ư tứ thể, tứ thể bất ngôn nhi dụ” (Tạm dịch: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí sinh gốc rễ trong tâm mình. Màu sắc của nó chiếu soi nơi vẻ mặt, sáng soi nơi lưng, vận dụng nơi tay chân. Tứ chi không cần nói nhưng biểu hiện đã rõ.)[1] Nhân lễ nghĩa trí đầy đủ gọi là “đẹp”, đầy đủ mà có sự nỗi bật gọi là “lớn”, lớn mà có sự cảm hóa gọi là “thánh”, thánh mà có chỗ người khác không biết được gọi là “thần”. Đại Thuấn thuộc hạng người như vậy. Sức nhẫn nhục của vua Thuấn đặc biệt phi thường, cho dù đối với Thuấn có xấu xa thế nào đi nữa, Thuấn vẫn luôn mở rộng tâm mình ra để thứ tha cho người đó. Thuấn đã không phát cáu, không khơi dậy ngọn lửa vô minh sân hận ấy, ngược lại còn biểu hiện sự khiêm tốn, thật thà ứng xử với người khác, nhu hòa điềm đạm, tùy thuận đón nhận nghịch cảnh. Cha của vua có mắt như mù, không rõ trắng đen phải quấy; người mẹ kế thì điêu ngoa thích đặt chuyện, lòng dối gian; em trai thì quen thói ngạo mạn, thường bắt nạt Thuấn; những điều như vậy Thuấn cũng nhẫn nhịn hết, chỉ hy vọng lấy sự nhân đức để cảm hóa bọn họ.

Hiệu khấp hạo thiên, Khuất kỷ đãi nhân: Thuấn từng thường nhìn lên trời mà cầu nguyện, chỉ mong sao có thể làm lòng cha mẹ vui. Có lúc hết cách, chỉ còn biết im lặng tự hỏi trời xanh, thậm chí nhìn trời xanh mà khóc, tự mình phản tỉnh lại tự trách mình chưa đủ tốt. Vua Thuấn luôn để mình chịu thiệt thòi, vì muốn cư xử với người thật tốt. Đây chính là hành vi của các bậc thánh.

Tượng điểu phục lao, Phủ ngũ huyền cầm: Lòng hiếu hạnh của Thuấn cảm động cả đất trời, đến loài voi cũng đều đến giúp Thuấn cày đất, chim chóc thì đến giúp Thuấn nhổ cỏ, gánh bớt sự nhọc nhằn cho Thuấn. Lúc nghỉ ngơi, Thuấn thường mang đàn Ngũ huyền cầm ra gẩy để rèn dưỡng thân tâm.

Xướng Nam Phong ca, Giải uấn ngô dân: Khúc hát Nam Phong ca rằng: “Nam Phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uấn hề; Nam Phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề.” (Tạm dịch: Ngọn gió Nam ấm áp chừ, có thể làm nguôi phiền muộn cho dân tôi; Ngọn gió Nam thổi qua, có thể giúp dân tôi hết sự lầm than.) Sự trong sáng và đức độ của vua Thuấn cũng như cơn gió Nam , có thể giúp cho trăm họ tiêu hết mọi muộn phiền; chính sách sáng suốt của vua, cũng như cơn gió Nam làm cho muôn vật sinh trưởng, trăm họ ăn no mặc ấm, an cư lạc nghiệp.

Giảng giải bài kệ:

Thiên sanh đại thánh huýnh bất đồng: Bậc đại thánh đại hiền, bẩm tính sinh ra không hề giống người thường, có thể chịu khổ chịu oan, tâm tính bình thản đón nhận mọi khảo nghiệm của cuộc đời. Nên Mạnh Tử nói: “Thiên tương giáng đại nhậm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân hành, phất loạn kỳ sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất năng giả” nghĩa là: “Khi trời muốn giao phó một trọng trách cho người nào thì trước hết làm cho khổ cái tâm chí, nhọc cái gân cốt, đói cái thể xác, cùng túng cái thân người ấy, động làm gì cũng nghịch ý muốn; có vậy mới khích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, thêm ích cho những điều chưa hay làm được.” (Dùng lại lời dịch trong “Thiền Luận” quyển Thượng)[2] Bậc thánh nhân hay vượt qua được mọi khốn khó, nhẫn chịu được mọi gian nan, tuyệt đối không hề cúi đầu trước mọi hoàn cảnh.

Xuất loại bạt tụy chúng trung long: Đại Thuấn là một bậc thánh nhân siêu xuất, vượt qua hẳn hạng người tầm thường, là loài rồng giữa loài người.

Lạc thủ dữ nhân dĩ vi thiện: Vua Thuấn xem làm thiện là việc làm có nhiều niềm vui nhất, đầy đủ tâm từ bi của Bồ-tát, mang đến niềm an vui cho chúng sanh, nhổ sạch mọi thống khổ của chúng sanh.

Kính thận luật kỷ hóa quần luân: Vua đối với người khác thì rộng rãi nhân hậu, đối với bản thân thì rất nghiêm khắc, thận trọng trong ứng xử, lấy bản thân làm gương cho người khác, thế nên cảm hóa được trăm họ trong khắp cả nước.

Tự canh gia đào giai như thử: Dù là lúc cày ruộng hay khi nắn đồ gốm, cho đến lúc đã làm hoàng đế, vua vẫn một thái độ như thế, không hề dễ dãi với mình, nhất cử nhất động đều có thể làm mô phạm cho nhân dân.

Học lễ thư số tận tinh thông: Vua còn rất hiếu học không biết mệt mỏi, lễ nghi, âm nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, viết chữ, toán số… môn nào cũng đều tinh thông.

Vô vi nhi trị bình thiên hạ: Vua dùng đức độ để cảm hóa nhân dân, nên có thể lấy cái vô vi mà làm cho thiên hạ thái bình thịnh trị.

Chí đức cảm vật tánh duẫn công: Vua dùng đức để cảm hóa chúng sanh, tuân theo lời dạy của vua Nghiêu khi nhường ngôi cho mình: “Duẫn chấp quyết trung” (Lòng trong sáng không thay đổi), xem đó như là chuẩn mực của việc trị nước. Đây là thành ý và tâm huyết của vua, giữ đường lối chính trị trung đạo. Lúc nào vua cũng lo lắng cho dân, thánh đức ấy của vua xứng đáng làm mô phạm cho người đời sau.

[1] Câu này xuất xứ từ câu nói của Mạnh Tử trong thiên “Tận tâm thượng”. Nếu văn dịch chưa sáng nghĩa, xin xem thêm “Mạnh Tử chú sớ” (D. G.)
[2] Mạnh Tử, thiên Cáo Tử, hạ

Trích “Thủy Kính Hồi Thiên Lục”

ĐỂ LẠI CÂU TRẢ LỜI