LTS: Ðức Phật dạy rằng: Làm người cho tròn rồi mới làm Phật.

Bên Trung Hoa đạo làm người là trung tâm nền tảng giáo dục của đạo Khổng. Chúng tôi xin trích dẫn lời dạy về đạo làm người qua phần Ðại Tượng Truyện do đức Khổng Tử giải thích ở 64 quẻ trong Kinh Dịch. Phối hợp với quẻ Dịch là những lời dạy trong tập Luận Ngữ mà ngài Tăng Sâm, một đệ tử của đức Khổng Tử chép lại. Tất cả những kẻ thành tựu, bậc quân tử, vĩ nhân, thánh nhân, hay kẻ giác ngộ đều xây dựng sự nghiệp trên nền tảng đạo đức chắc thật, kiến giải thấu triệt và tâm lượng rộng lớn. Họ là những kẻ lúc nào cũng xoay về gốc, nhìn ngược lại tâm mình, sống với giá trị và lý tưởng cao thượng. Không nao núng trước thế lực và áp lực, không ngừng cải thiện tầm nhìn và sự hiểu biết, họ tìm cách cống hiến năng lực đời mình một cách thiết thực nhất.

KINH DỊCH:

Thủy Lôi Truân: Quân tử dĩ kinh luân.

Quẻ Truân: Quân tử sắp đặt, sửa sang.

Lược giải:

Ðây là quẻ thứ ba trong Kinh Dịch. Quẻ này gồm hai phần hợp lại: Phần trên là hình tượng của Thủy (nước, hoặc hơi nước, hoặc là mây); phần dưới là hình tượng của Lôi (sấm sét). Truân có nghĩa là gian nan, rắc rối, khó khăn, phiền phức. Ðây là cảnh mây đen giăng bủa, sấm sét chớp xẹt, báo trước rằng trời sắp sửa mưa xuống. Kinh Dịch dạy rằng: Khi người quân tử nhìn thấy cảnh tượng này, chàng ta liền phải gấp lo thu xếp công việc, đặt định mọi chuyện để phòng bị mưa rơi, do đó kinh nói người quân tử sắp đặt, sửa sang, trước khi tai họa hoặc sự việc xảy ra.

Sau đây là một câu chuyện lịch sử nói về quẻ Truân:

Ðời nhà Ðường, có vị lãnh chúa tên Châu Ôn (852-912 AD) ôm ấp ý đồ muốn làm hoàng đế nên đã công nhiên chống lại chính quyền địa phương đương thời là quan tri phủ Lý Khắc Dụng (856-924 AD) và thách thức cả vua Ðường Chiêu Tông (đương triều 889-903 AD). Thời ấy, dân cư trong vùng lân cận chịu đủ thứ gian nan, nhiễu nhương vì chinh chiến, đúng là thời đại của quẻ Truân.

Bây giờ có một ngôi chùa nọ đang được trùng tu. Ngài Phương trượng đốc thúc việc xây cất đột nhiên bắt các nhân công phải bí mật xây hai tường hai vách, mà giữa vách thì chất đầy lương khô. Ngài lại cố ý cho xây thật nhiều trụ để chống đở trần nhà. Vì những trụ này không mấy cần thiết, nên các vị tăng khác thấy ngài làm vậy thì chế giễu, cho rằng ngài già rồi nên lẩm cẩm, thiếu minh mẫn.

Mấy tháng sau, khi chùa xây xong thì nội chiến cũng bùng phát. Lính tráng và giặc giã nổi lên khắp nơi. Thương buôn phải đình trệ. Nông gia chẳng thể tiếp tục chăm sóc ruộng vườn yên ổn được. Thành phố, thôn quê, đâu đâu cũng bị cướp bóc và đốt cháy. Dân chúng khổ sở, mất mạng nhiều vô số. Ðến khi mùa đông rét buốt tới thì củi quý như vàng, gạo đắt như ngọc. Không ai muốn bán thóc lúa, cây trái, vốn là những thứ khó kiếm vô cùng lúc bấy giờ. Kẻ giàu, phú ông, bởi vì ham tiếc không chịu đổi chác ngọc ngà, tài sản nên rốt cuộc nhiều kẻ phải chết đói.

Bấy giờ, trong lúc hỗn loạn ấy, vị phương trượng truyền dạy chư tăng từ từ chẻ mấy cái trụ dư thừa kia xuống làm củi, rồi lấy bớt lương khô ra mà ăn lần lần. Tất cả chúng tăng nhờ đó mà không chết đói, chết rét. Ai cũng tán thán trí huệ thực tế, nhìn xa thấy rộng của ngài phương trượng.

Ðấy chính là do ngài thấy được thế sự đang ở trong thời quẻ Truân, và ngài biết áp dụng câu: Người quân tử sắp đặt, sửa sang.

Nếu hiểu quẻ Truân trên phương diện tâm linh thì:

Mây đen tụ lại, giăng bủa: tượng trưng cho vọng tưởng, thành kiến, chấp trước tích tập đầy dẫy. Sấm sét chớp nhoáng: tượng trưng cho cảm giác, phiền não, tức giận, âu lo, v.v.. Khi vọng tưởng và phiền não quá nhiều thì trước sau cũng sẽ dẫn tới hành động ngu muội, không hợp lý, không hợp giới luật; hệt như khi có mây đen, sấm sét thì trước sau trời cũng sẽ mưa. Kinh Dịch dạy: người quân tử sắp đặt, sửa sang tức là dạy người tu hành khi thấy và nhận biết được vọng tưởng, chấp trước và phiền não của mình thì phải mau mau phản tỉnh, sửa đổi chính mình. Sắp đặt, tức là phải suy nghĩ cho đúng với giới luật, với lý nhân quả. Sửa sang là sửa đổi thái độ, thói quen và quan niệm. Sửa sang có mấy thứ bậc:

1. Ở bậc thấp nhất: Một khi mây đã giăng, sét đã dậy, thì ta phải giữ gìn giới luật đối với lời ăn tiếng nói, kiểm soát hành động đừng để tổn hại kẻ khác. Nho giáo dạy: Phát, nhi giai trung tiết, vị chi hòa (tâm tình bộc phát nhưng giữa cho thăng bằng, trong vòng lễ độ thì gọi là hòa), hay là giữ tâm bình khí hòa.

2. Ở bậc cao hơn một chút: Quán sát nhân quả dòng vọng tưởng để phá trừ thành kiến và chấp trước; quán sát thực chất của mối phiền não để chấm dứt nó.

3. Ở bậc cao hơn nữa: Ðừng để mây đen kéo tới, đừng để sấm sét nổi lên. Nho giáo dạy: Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát, vị chi trung (Khi vui, giận, buồn, sướng chưa phát ra thì gọi là trung). Phật dạy: Ðừng khởi tà kiến, chớ trụ tâm chấp trước, đừng sinh phiền não. Tu lòng từ bi hỉ xả.

Một câu chuyện nói về quẻ Truân như sau:

Có hai vợ chồng làm nghề buôn bán đã nhiều năm. Họ thường thường cứ bị những con buôn khác lường gạt hoài. Bực dọc, hai người mới lên than phiền với một vị thiền sư; họ nghĩ rằng họ đã phải làm gì bậy trong kiếp trước nên mới bị lường gạt trong kiếp này.

Vị sư cười, hỏi rằng: Hãy khoan đổ thừa cho kiếp trước! Các con có bao giờ gạt ai chưa?

Ngần ngừ một hồi, hai người mới nói: Dạ có, nhưng tụi con đã ngừng. Lâu lắm rồi, tụi con chẳng gạt gẫm ai.

Sư hỏi tiếp: Thế con vẫn còn tính toán, tranh hơn, giành thắng?

Họ đáp: Dạ, đương nhiên tụi con phải tính toán, mình phải tính lời chớ, thưa thầy.

Sư hỏi: Thế con vẫn còn nói dối, nói lợi, nói đẹp cho mình?

Họ đáp: Mình không tự quảng cáo thì ai mua hàng mình bán?

Sư hỏi: Thế con có nói xấu, chê bai người buôn khác, chê bai hàng hóa họ bán?

Họ đáp: Tụi con không nói toạc ra (rằng kẻ khác xấu) thì khách hàng cứ chạy đi mua chỗ khác, không mua hàng tụi con.

Sư kết luận: Khi tâm các con tranh chấp, gạt gẫm, chê bai, giành giựt thì con sẽ chiêu cảm quả báo là những thứ lường gạt, đấu tranh. Việc làm của con tuy nói là buôn bán, thực sự chẳng khác gì chuyện đánh giặc. Làm sao con có thể yên vui, hòa bình, không bị lường gạt được.

Câu chuyện trên đây cho thấy một khi trong tâm đã nuôi dưỡng quan niệm sai lầm, thành kiến, chấp trước, tranh chấp nội tại, thì quả báo đau khổ thật khó tránh. Ðức Phật tóm gọn quá trình khổ đau này trong ba giai đoạn: Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ quả báo. Khởi hoặc tức là dấy khởi tà kiến, phiền não. Tạo nghiệp tức là có hành động và lời nói sai lầm. Thọ quả báo tức là chịu đau khổ, không được như ý mình.

🔜 Tài liệu tham khảo và trích dịch gồm có:
Tiếng Việt: Kinh Dịch của Ngô Tất Tố, Chu Dịch của Phan Bội Châu
Tiếng Hoa: Dịch Kinh Ðại Toàn, Tứ Thư Ðộc Bổn, Luận Ngữ Chú Giải
Tiếng Anh: The Essential Confucius do Thomas Cleary dịch, The Wisdom of Confucius của Lin Yu Tang (Lâm Ngữ Ðường).
Nguồn: http://www.dharmasite.net
SHARE
Bài trướcÐạo Làm Người: Quẻ Càn
Bài tiếp theoÐạo Làm Người: Quẻ Khôn
"Đạo Đức vốn là cái tinh hoa duy nhất của đất nước Việt Nam, nó làm cho dân tộc Việt Nam có nhân cách tươi đẹp và xã hội Việt Nam có hương vị thơm tho, cho nên người Việt Nam dám liều sống chết để bảo vệ Đạo Đức đến cùng. Chúng ta nên nhớ rằng mình không những là dân tộc Việt Nam mà còn là người tín đồ nhà Phật thì đối với việc Đạo Đức càng phải tôn trọng gìn giữ hơn ai hết, không nên thờ ơ chán ngán lúc nào cả. Thời gian hung ác qua rồi hầu hết người ta đều trở về Đạo Đức. Đạo Đức là cứu cánh của con người, cổ kim đã chứng minh rất nhiều ở điều ấy.” (Tiên sinh Thanh Sĩ, 1964)

ĐỂ LẠI CÂU TRẢ LỜI