“Những năm gần đây, theo đà phát triển của nền kinh tế và văn hóa của Việt Nam, một số người đã dần quan tâm hơn về văn hóa truyền thống. Đã xuất hiện những lời kêu gọi về việc dạy lại Hán-Nôm. Tháng 7 năm 2010, chủ tịch nước lúc đó là ông Trần Đức Lương trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đã phát biểu “Chúng tôi cho rằng sử dụng chữ La Tinh có một sự tiện lợi nhất định, nhưng đã càng lúc càng thể hiện rõ hơn về sự bất tiện. Văn học vào những năm trước thế kỷ 19 những người trẻ tuổi hiện nay không hiểu…. Làm cho những thanh niên hiện nay học và hiểu chữ Hán là một việc rất quan trọng”. “

Trong Vòng văn hóa Đông Á, có ba quốc gia du nhập chế độ Khoa cử và tự cho là “Tiểu Trung Hoa” là Việt Nam và Triều Tiên và Nhật Bản.

Năm 1882, sau khi quân đội Pháp đóng chiếm Hà Nội, bắt đầu cai trị Việt Nam bằng chế độ thực dân, người Pháp đã cố diệt tận gốc các tư tưởng truyền thống của các phần tử trí thức Việt Nam. Ngoại trừ giai cấp thống trị thì đại đa số dân thường đều mù chữ. Thực dân Pháp đã lợi dùng cơ hội này phức tạp hóa chữ Hán trong ấn tượng của người dân. Họ tuyên truyền chữ Hán là một di vật mà giai cấp đặc quyền dùng để thống trị người dân, kích động và ly gián thái độ của dân chúng đối với chữ Hán, ép buộc người Việt sử dụng những chữ mà người dân dễ học. Như vậy, phong trào loại bỏ chữ Hán, chuyển sang sử dụng chữ La Tinh đã được triển khai thành công. Phong trào này cũng được sự ủng hộ của phái tả Việt Nam, lực lượng đó đã trở thành một sức mạnh thúc đẩy La tinh hóa tiếng Việt cho thực dân Pháp.

Sau khi Ngô Quyền lập nên vương triều Việt Nam độc lập vào năm 939 sau Công nguyên, các chính quyền của những vương triều trước vẫn không hề bài xích văn hóa Trung Quốc một cách mù quáng. Đặc biệt là vào đầu thế kỷ 11, khi văn hoá Việt Nam phát triển phồn thịnh ở thời nhà Lý, Việt Nam đã du nhập vào một lượng lớn văn hóa Trung Quốc. Ngoài chế độ khoa cử, Việt Nam còn tiếp thu chế độ luật pháp của Trung Quốc và xây dựng nên một quốc gia mang hình thái quốc gia Trung Quốc cổ đại. Giờ đây Việt Nam là một nước trong khu vực văn hóa Đông Á còn lưu giữ nhiều truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Đông Á như Quan Hôn Tang Tế (冠婚喪祭).

Văn bản viết của Việt Nam trước giữa thế kỷ 20 được viết bằng hai loại ngôn ngữ: Một là văn viết của Trung Quốc cổ đại được gọi là “Hán văn”, nó hoàn toàn là ngôn ngữ viết, khác với ngôn ngữ nói trong cuộc sống hàng ngày; Loại thứ hai là dạng sử dụng hỗn hợp của chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc Việt gọi là “văn Hán-Nôm”, đó là hệ thống văn viết tiếng Việt để ghi chép lại tiếng nói trong cuộc sống hàng ngày. Trong lịch sử, ngoại trừ thời nhà Hồ và nhà Tây Sơn, các giai cấp thống trị và một bộ phận của tầng lớp trí thức sử dụng Hán văn làm văn viết trong các tình huống trang trọng, trong khi dân thường và giới trí thức khác thường sử dụng văn Hán-Nôm. Với lịch sử như vậy, tiếng Việt có hơn 70% từ vựng là từ gốc Hán (từ Hán-Việt) mà dựa trên phát âm của chữ Hán Việt Nam gọi là “âm Hán-Việt”. Theo nhà hán học Pháp Henri Maspero, âm Hán-Việt là âm chữ Hán dựa trên tiếng địa phương của Trường An thời nhà Đường vào khoảng thế kỷ 9.

Giáo sĩ A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ (Alexander Rhodes) ở thế kỷ 17 đã biên soạn văn tự phiên âm La tinh của Việt Nam trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt – Tiếng La Tinh – Tiếng Bồ Đào Nha”. Năm 1885, thực dân Pháp buộc phải lây lan chữ phiên âm La tinh dưới danh nghĩa hơi đạo đức giả và biếm họa của “phép chính tả”. Điểm khác biệt với các nước khác ở chỗ, việc này không vấp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ của người Việt Nam. Nguyên nhân chính là, lợi và hại của chính quyền thực dân, lực lượng phong trào độc lập và Đảng Cộng sản sau này có quan hệ mật thiết với nhau. Chính phủ thực dân muốn tăng cường sự thống trị đối với thuộc địa nên đã thực thi chính sách trên; lực lượng phong trào độc lập muốn “xoá nạn mù chữ” (Theo tài liệu báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2009 và Trung Hoa Dân Quốc năm 2007, Việt Nam năm 2009 có tỷ lệ biết chữ đạt 90,3%; trong khi đó tỷ lệ ở những nơi dùng chữ Hán như Nhật Bản [năm 2009], Trung Quốc đại lục [năm 2009] và Đài Loan [năm 2007] lần lượt là 99,0%, 93,3%, 97,6%, tỷ lệ biết chữ cả ba nước cả đều cao hơn Việt Nam. Như vậy, đầu tư cho giáo dục chính là chìa khoá xoá nạn mù chữ, loại bỏ văn tự cũ nhằm xoá nạn mù chữ là việc làm không có tầm nhìn xa, lợi bất cập hại.), đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt về văn hoá so với Trung Quốc; Đảng Cộng sản đã dựng nên một nền văn hoá mới đậm chất Cộng sản nhằm xoá bỏ văn hoá cũ. Xuất phát từ nhiều các mục đích chính trị tự thân, ba phong trào này chấp nhận và cổ võ chủ trương phế bỏ chữ Hán-Nôm, phát triển chữ La Tinh.

Trước năm 1945 ở Việt Nam, sau khi thực dân Pháp bỏ các kỳ thi chữ Hán thì chữ Hán vẫn được giảng dạy trong nhà trường, mỗi tuần 1-2 tiết. Tuy số tiết học rất ít ỏi nhưng cũng đủ cho người học hiểu được chữ Hán, không dùng sai, viết sai tiếng Việt và để tinh thần truyền thống qua thứ chữ ấy góp phần tạo nên cốt cách con người. Ở miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) trước năm 1975 từng tổ chức một chương trình dạy tiếng Hán cho học sinh từ trung học đệ nhất cấp với bộ sách giáo khoa khá tốt, Hán văn khóa bản, học 1 giờ mỗi tuần bên cạnh hai ngoại ngữ bắt buộc, tiếng Anh và tiếng Pháp.

Sau khi nam bắc Việt Nam thống nhất vào năm 1975, ở Việt Nam chữ Hán và chữ Nôm dường như đã không còn, chỉ còn có những người già hay những người chuyên nghiên cứu về lịch sử hay văn học cổ mới có những sự hiểu biết nhất định về Hán Nôm. Điểm giống với Bắc Triều Tiên là sau những năm 1960 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề xướng việc thay đổi những từ gốc Hán trong tiếng quốc ngữ, đã thay không ít những từ Hán-Việt thành từ thuần Việt, Ví dụ từ Hán-Việt “phi cơ (飛機)” bị đổi thành “máy bay (𣛠𩙻)”, “tiềm thủy tĩnh (潛水艇)” đổi thành “tàu ngầm (艚沈)” vân vân. Sự bãi bỏ chữ Hán cộng thêm việc hạn chế sử dụng từ Hán-Việt làm việc sử dụng sai những từ ngữ trong tiếng Việt hiện nay càng thêm nghiêm trọng. “yếu điểm (要點)” được dùng như “điểm yếu (點夭)”, “cứu cánh (究竟)” được dùng như “cứu giúp (救𠢞)”, thậm chí có nhà văn nọ còn dùng từ “khiếm nhã (欠雅)” như là “trang nhã (莊雅)”. Sinh viên ngay cả ngành khoa học xã hội và nhân văn mà vốn từ hết sức nghèo nàn, nhiều người trong số họ không có khả năng hiểu được những từ gắn với nhà trường như: “học phong (學風)”, “môn phong (門風)”, “đồng song (同窗)”, “đồng môn (同門)” vân vân.

Những năm gần đây, theo đà phát triển của nền kinh tế và văn hóa của Việt Nam, một số người đã dần quan tâm hơn về văn hóa truyền thống. Đã xuất hiện những lời kêu gọi về việc dạy lại Hán-Nôm. Giáo sư Cao Xuân Hạo của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã cho biết “Đứng trên góc độ ngôn ngữ học, tiếng Việt sử dụng chữ La Tinh là không phù hợp, bỏ đi chữ Hán và chữ Nôm là một sự tổn thất về văn hóa”, và chủ trương việc dạy chữ Hán tại cấp học trung học phổ thông và trung học cơ sở. Tháng 7 năm 2010, chủ tịch nước lúc đó là ông Trần Đức Lương trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đã phát biểu “Chúng tôi cho rằng sử dụng chữ La Tinh có một sự tiện lợi nhất định, nhưng đã càng lúc càng thể hiện rõ hơn về sự bất tiện. Văn học vào những năm trước thế kỷ 19 những người trẻ tuổi hiện nay không hiểu…. Làm cho những thanh niên hiện nay học và hiểu chữ Hán là một việc rất quan trọng”. Năm 2010 giáo sư Đoàn Lê Giang của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng bày tỏ tầm quan trọng trong việc khôi phục lại việc dạy chữ Hán Nôm và cũng đưa ra những đề án dần tham khảo của Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc dạy Hán-Nôm. Sự phát triển kinh tế và sự nới lỏng chính sách về Hán-Nôm, làm cho việc cải thiện và làm mới những truyền thống văn hóa thường thấy là viết câu đối, tấm biển, bia đá, chung minh bằng Hán-Nôm. Hiện nay, có không ít người Việt Nam nhìn vào góc độ cạnh tranh quốc tế mà có thái độ khẳng định với việc dạy Hán-Nôm. Họ cho rằng, nếu như biết đọc viết chữ Hán, không những có thể giao tiếp thông qua bút đàm tại Trung Quốc đại lục, mà còn ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, vân vân, và việc sử dụng chữ Hán làm chữ viết cho cộng đồng Đông Á là sự nâng cao khả năng ảnh hưởng tích cực đến quốc tế. Ngoài ra, do sự xuất hiện vấn đề về việc trong cuộc sống năng lực tiếng Việt không tốt, bắt đầu từ năm 2010, tại Đà Nẵng và một số thành phố khác đã bắt đầu việc dạy thử chữ Hán [chữ Nho] từ cấp trung học cơ sở.

Tham khảo từ: Uỷ ban Phục sinh Hán-Nôm

Người học văn hóa truyền thống nhất định phải bổ túc chữ Hán-Nôm và sử dụng chữ hán-nôm trong việc học tập [ghi chép] – như thế thì sự học mới có căn bổn [gốc rễ] – và đáp ứng được yêu cầu truyền thừa lâu dài về sau.

SHARE
Previous articleTin Rằng Tương Lai Chữ “Hán-Nôm” Sẽ Được Hưng Khởi
Next articleBa Năm Học Chữ Nôm Và Nền Tảng Trí Tuệ Của Một Vị Tướng
"Đạo Đức vốn là cái tinh hoa duy nhất của đất nước Việt Nam, nó làm cho dân tộc Việt Nam có nhân cách tươi đẹp và xã hội Việt Nam có hương vị thơm tho, cho nên người Việt Nam dám liều sống chết để bảo vệ Đạo Đức đến cùng. Chúng ta nên nhớ rằng mình không những là dân tộc Việt Nam mà còn là người tín đồ nhà Phật thì đối với việc Đạo Đức càng phải tôn trọng gìn giữ hơn ai hết, không nên thờ ơ chán ngán lúc nào cả. Thời gian hung ác qua rồi hầu hết người ta đều trở về Đạo Đức. Đạo Đức là cứu cánh của con người, cổ kim đã chứng minh rất nhiều ở điều ấy.” (Tiên sinh Thanh Sĩ, 1964)

LEAVE A REPLY