“Hán tự, văn ngôn văn là văn tự biểu nghĩa, nó sẽ không bị thời gian không gian ảnh hưởng. Nhưng những nền văn minh khác, văn tự của nó là văn tự biểu âm, tức là khi họ viết văn cũng giống như khi họ nói chuyện, nhưng mà ngôn ngữ nói chuyện, hai ba chục năm sẽ có một sự thay đổi nhỏ, hai ba trăm năm sẽ có một sự thay đổi lớn. Bây giờ hình như những người trẻ mười hai mươi tuổi có lúc nói ra một số từ ngữ, bây giờ người lớn tuổi đều nghe không hiểu. Hai ba chục năm thật sự là thay đổi nhỏ, hai ba trăm năm là thay đổi lớn.”

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ phổ thông (Quốc ngữ) của nước ta hiện nay là Tiếng Việt hiện đại (Văn hiện đại). Đây là thứ ngôn ngữ được dùng trong giao tế hàng ngày, cũng như được dùng trong cách hành văn ở các sách vở báo chí, văn bản hành chánh nhà nước.

Loại VĂN HIỆN ĐẠI này có sự thay đổi liên tục theo thời gian, nghĩa là cứ mỗi 20 năm là nó xuất hiện tình trạng biến đổi về cấu trúc ngôn ngữ ở cách dùng từ, ngữ pháp, ngữ vựng, ngữ nghĩa hay âm vị… Nhất là trong thời kỳ cách mạng 4.0 như hiện nay, chúng ta có thể thấy được sự thay đổi nhanh chóng này. Thử xét lấy một ví dụ sau:

“Một người Việt Nam vượt biên (1975) hoặc di trú theo diện HO (những năm 1990) sang sinh sống ở các nước phát triển như Huê Kỳ, Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại (cách gọi của Miền Nam trước 75). Sau gần 40 năm, 20 năm xa cách quê hương, nay họ quay về nước, khi họ giao tiếp với người trong nước, đọc các sách báo của trong nước, họ sẽ có phần không hiểu nỗi. Sao mà lạ quá, ngồ ngộ ghê:

– “bảo đảm” biến thành “đảm bảo”
– “chúng ta phải làm việc tốt” biến thành “chúng ta phải lao động tốt” (nên biết văn phạm xưa, “lao động” là tính từ: giới lao động, dân lao động)
– “Chúng tôi đã liên lạc cô Lan” biến thành “chúng tôi đã liên hệ cô Lan” (vì trong tiếng Việt truyền thống cụm từ “liên hệ” là tính từ như trong câu: “Hãy thông báo cho những người liên hệ được biết”.)
– Vô vàn Teencode khó hiểu, vô vàn những cách dùng từ mới lạ như: “đắng lòng, sa mạc lời, kho quẹt lời, anh xin quản lý đời em”

Vài ví dụ minh chứng cho thấy sự biến đổi của VĂN HIỆN ĐẠI là tỉ lệ thuận với thời gian, thời gian càng xa thì cách biệt về ngôn ngữ càng lớn. Người của một trăm, hai trăm năm trước (nếu có sống lại) cũng sẽ không thể hiểu rành rõ những gì người hiện nay nói. Nếu bây giờ chúng ta viết sách theo VĂN HIỆN ĐẠI [đương thời] thì bạn có chắc con cháu của ta 200 năm 300 năm sau có thể hiểu hết được không? Đương nhiên là không thể hiểu nỗi rồi! Thời của chúng là thế kỷ 24, 25, ngôn ngữ đã bị biến đổi quá nhiều, không còn như hồi thế kỷ 21 nữa. Người thế hệ sau không hiểu những gì cha ông mình nói! Như thế thì có nguy lắm không? Cách biệt cha ông quá lớn. Văn hóa bị đứt đoạn thì đất nước này cũng không còn rồi! Điểm này chúng ta phải cực kỳ lưu tâm. Không Tử nói: “Không luận nhất thời, chỉ luận dài lâu”. Chúng ta phải có sự nhìn xa trông rộng này mới được.

Các bạn sẽ có tự hỏi:

“Sao đất nước chúng ta truyền được 4000 năm đó, có bị đứt đoạn đâu?”

Cha ông của chúng ta có trí huệ, các ngài đã lường trước điều này, biết rằng “ngôn ngữ đương thời” luôn có sự thay đổi theo thời gian, nên phải có sự phân tách rạch rồi giữa VĂN NÓI và VĂN VIẾT để hòng lưu truyền dài lâu. VĂN NÓI thì tùy mỗi thời kỳ mà có sự biến đổi, còn VĂN VIẾT thì thời nào cũng dùng một thể văn ấy, đó chính là thể văn VĂN NGÔN, hay còn gọi là CỔ VĂN (NHO VĂN). VĂN NGÔN là thể văn mà các triều đại Việt Nam xưa dùng nó trong các văn bản giấy tờ quản lý hành chánh nhà nước cũng như trong thi cử khoa bảng tuyển chọn hiền tài. Thử tưởng tượng: Nếu chúng ta biết VĂN NGÔN, bây giờ chúng ta đọc Luận Ngữ của Khổng Tử thì cũng như người 2000 năm trước đọc Luận Ngữ, cái mùi vị này là trực tiếp, không có nhai lại từ người khác. Người đời nào cũng hiểu như nhau hết, không có sai biệt! Thế hệ sau hiểu được thế hệ trước, văn hóa luôn được truyền thừa một mạch từ đầu chí cuối gần 4000 năm, cũng chính là nhờ VĂN NGÔN này đó. Tiếc là đời nay VĂN NGÔN bị phế bỏ, chẳng còn mấy ai học nữa. Chẳng phải là nguy cấp lắm sao!

Lại xét ở trong Phật giáo, Kinh điển Đại Thừa số lượng chủng loại vô cùng đa dạng phong phú, truyền đến nay gần 2500 rồi! Làm sao có thể truyền lâu như vậy? Chính là do Kinh điển Đại Thừa dùng thể văn VĂN NGÔN để ghi. Bất luận là ở thời đại nào, miễn là biết VĂN NGÔN thì hoàn toàn có thể đọc được. Lại nói: “Thời đại mạt pháp, kinh sách bị diệt hết chỉ còn bốn chữ A Di Đà Phật”. Tại sao bị diệt hết? Kinh sách vẫn được lưu giữ ở trong các tàng kinh các, thư viện đó chứ:

– Một là, không có ai tìm đọc
– Hai là, có người tìm đến mà đọc không được (vì không hiểu VĂN NGÔN, không ai dạy VĂN NGÔN cho hiểu)

Có người nói do VĂN NGÔN khó hiểu nên cần phải dịch ra VĂN HIỆN ĐẠI để nhiều người được hiểu?

Việc làm này rất được ngợi khen, thế nhưng chỉ là cấp cứu nhất thời vì hoàn cảnh thời đại. Chứ không giải quyết vấn đề truyền thừa lâu dài được. Hỏi những tác phẩm đã dịch ra, người hiện thời có thể hiểu đó, có lợi ích đó! Nhưng mà người của 300 năm, 400 năm sau có thể hiểu được không? Rồi người của 300 năm sau, 400 năm sau lại dịch lại từ các tác phẩm đã dịch này sao? Ôi cái nạn “tam sao thất bổn” vẫn còn gây nên sự hồ nghi trong đại chúng!

Hòa thượng Tịnh Không trong “Đại Kinh Khoa Chú 2014” có khai thị như sau:

“Giống như ngày nay chúng tôi đề xướng Hán học, vì không có người làm thì chúng tôi phải làm, đem công đức này hồi hướng Thế giới Cực Lạc. Tại sao phải làm như vậy? Bởi nếu Hán học đoạn rồi, thì tương lai Phật pháp sẽ diệt vong, vì đó là gốc của Phật pháp. Tại sao nói như vậy? Gốc của Hán học là gì? Là chữ Hán, kinh điển Phật giáo Đại-thừa hoàn toàn dịch sang chữ Hán, nếu như tương lai không ai nhận biết ý nghĩa của chữ Hán, thì không ai đọc được kinh điển Đại-thừa này nữa, điều này nguy lắm! Nên quan trọng hơn bất cứ điều gì. Một dân tộc, mà nếu như gốc văn hóa của họ sắp bị đoạn mất rồi, thì như ngài Toynbee đã nói, nhiều nhất dân tộc đó ở thế giới này 200 năm nữa, sau 200 năm dân tộc đó sẽ biến mất. Văn hóa là gốc, văn hóa có gốc, gốc ở đây là tín ngưỡng Thánh học, ở nước ngoài là tôn giáo, ở Trung Hoa là Nho và Đạo, Nho Thích Đạo là một thể, không thể tách rời. Cho nên chúng tôi phục hưng Nho, phục hưng Đạo, là có sứ mạng, có trách nhiệm, đây là tích công lũy đức, đem công đức này hồi hướng cầu sanh Tịnh-độ, thì đúng rồi. Có duyên như vậy, thì làm; không có duyên như vậy, thì đừng đi cầu, đừng tìm việc, sự việc đến thì không thể từ chối, phải thật sự đi làm.”

Cho nên bất luận chúng ta học Văn hóa truyền thống, hay học tập Phật pháp, quyết định phải nhìn kỹ vấn đề này! Phải nghĩ tới con cháu đời sau mà cực lực đề xướng việc học VĂN NGÔN, có như thế thì Văn hóa truyền thống mới truyền thừa mãi, Phật pháp mới được trường tồn.

Còn nhớ ngài THANH SĨ, sống trong thời đại mà phong trào phế bỏ VĂN NGÔN, đề xướng chữ QUỐC NGỮ (VĂN HIỆN ĐẠI) đang phát triển mạnh mẽ. Nhưng ngài không quên việc mở các lớp CHỮ NHO – VĂN NGÔN để bồi dưỡng nhân tài đạo đức về sau. Các gương như HT. TRÍ TỊNH, HT. MINH CẢNH vẫn còn đó, rất đáng để hàng hậu học chúng ta tiếp bước noi theo.

SHARE
Bài trướcBa Năm Học Chữ Nôm Và Nền Tảng Trí Tuệ Của Một Vị Tướng
Bài tiếp theoCâu Chuyện Về Năng Lực Học Chữ Nho
"Đạo Đức vốn là cái tinh hoa duy nhất của đất nước Việt Nam, nó làm cho dân tộc Việt Nam có nhân cách tươi đẹp và xã hội Việt Nam có hương vị thơm tho, cho nên người Việt Nam dám liều sống chết để bảo vệ Đạo Đức đến cùng. Chúng ta nên nhớ rằng mình không những là dân tộc Việt Nam mà còn là người tín đồ nhà Phật thì đối với việc Đạo Đức càng phải tôn trọng gìn giữ hơn ai hết, không nên thờ ơ chán ngán lúc nào cả. Thời gian hung ác qua rồi hầu hết người ta đều trở về Đạo Đức. Đạo Đức là cứu cánh của con người, cổ kim đã chứng minh rất nhiều ở điều ấy.” (Tiên sinh Thanh Sĩ, 1964)

ĐỂ LẠI CÂU TRẢ LỜI